Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

Văn học Nhật Bản- một số đặc trưng nổi bật


1. Lịch sử lâu đời




Văn học Nhật Bản có một lịch sử lâu dài và nhất quán, điều này rõ ràng đến mức chúng ta không cần phải nói thẳng ra rằng đó là một đặc trưng. Nếu giới hạn trong những gì đã được kiểm chứng bằng các tài liệu ghi chép, ta có thể đi ngược về đầu thế kỷ thứ 8 để nói về sự khởi đầu của lịch sử văn học Nhật Bản. Năm 712, "Cổ sự ký" (Kojiki), cuốn sách sử có giá trị lớn về mặt văn học được biên soạn. Người ta vẫn chưa xác định được niên đại chính xác của tập thơ "Vạn diệp tập" (Manyoshu) dưới dạng tuyển tập được biết đến như ngày nay, song có thể suy đoán nó ra đời vào nửa sau thế kỷ thứ 8 hoặc đầu thế kỷ thứ 9 vì trong đó tập hợp không ít các bài thơ được làm trước khi biên soạn "Cổ sự ký". Kể từ đó tới nay, văn học Nhật Bản luôn xuôi theo một dòng chảy nhất quán, mặc dầu trải qua vô số biến thiên (từng có những thay đổi lớn nhưng chưa bao giờ hoàn toàn đứt đoạn) song nó vẫn được kế thừa với tư cách "một nền văn học đồng nhất” được viết bằng tiếng Nhật. Nếu đem so sánh với lịch sử văn học của phần lớn các nước khác trên thế giới thì có thể nói văn học Nhật Bản có một lịch sử dài. Đối với trường hợp "một nền văn học đồng nhất” trải qua một thời gian dài và được kế thừa liên tục như vậy ta hầu như không bắt gặp ví dụ nào khác ngoại trừ Trung Quốc với một bề dày lịch sử lâu đời đáng tự hào.
Lịch sử văn học Nhật Bản không chỉ lâu đời, mà các hình mẫu phát triển của nó còn có một đặc trưng giống như Kato Shuichi đã chỉ ra, đó là mặc dù ở vào một thời kỳ nào đó có thể xuất hiện những hình thức văn học và ý thức thẩm mỹ mới, song chúng không bao giờ xóa bỏ hoàn toàn hình thức và ý thức thẩm mỹ trước đó, ngược lại, chúng kế thừa những cái cũ và bồi đắp thêm những cái mới để tạo ra một dòng chảy văn học sử. Chẳng hạn, trong lĩnh vực thơ ca, thể loại tanka (thơ ngắn, hay còn gọi là waka, thơ kiểu Nhật) kể từ sau thời kỳ "Cổ sự ký" có lịch sử lâu đời nhất, tuy nhiên nó vẫn song song tồn tại cùng hai thể loại thơ ra đời sau đó là haikai (sau này gọi là haiku) và thơ cận đại (sau này gọi là thơ hiện đại) chịu ảnh hưởng của thi ca châu Âu từ thời Minh Trị. Nghĩa là, sự xuất hiện của thơ hiện đại không làm tanka hay haiku mất đi.
Tương tự như vậy trong lĩnh vực kịch nghệ, trạng thái cùng tồn tại ít nhất là ba thể loại gồm No-Cuồng ngôn (Kyogen), Kabuki, Tân kịch (kịch hiện đại) vẫn được duy trì đến ngày nay. Với trường hợp của châu Âu, lịch sử văn học nghệ thuật luôn phát triển thông qua sự thay đổi về dạng thức, khi một dạng thức mới xuất hiện, nó sẽ xóa bỏ cái dạng thức hình thành trước đó, khuynh hướng này được gọi là "sự đấu tranh" giữa các dạng thức (ví dụ có sự chuyển biến từ chủ nghĩa lãng mạn sang chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tượng trưng), nhưng đối với Nhật Bản thì điều này là hy hữu, dạng thức mới chồng đắp lên dạng thức cũ, nhờ kết quả đó mà văn học Nhật Bản cùng lúc đảm bảo được cả tính nhất quán và đa dạng về mặt lịch sử.

2. Ảnh hưởng của nước ngoài

Lịch sử lâu đời và tính nhất quán của văn học Nhật Bản mà tôi đề cập ở trên không có nghĩa rằng văn học Nhật Bản chỉ có những phát triển mang tính tự thân và nội tại mà không chịu ảnh hưởng nào từ bên ngoài. Phải thừa nhận rằng điều kiện địa lý tự nhiên là một quốc đảo được ngăn cách bởi biển khiến cho ngoại bang khó lòng xâm lược Nhật Bản về mặt quân sự là một trong những nguyên nhân giúp lịch sử có được tính nhất quán, song sự ảnh hưởng về văn hóa của nước ngoài thì lại là một câu chuyện khác. Thậm chí, Nhật Bản còn tiếp nhận một cách hết sức mạnh mẽ những ảnh hưởng về văn hóa từ ngoại quốc, vừa tích cực tiếp thu vừa phát triển nó thành văn hóa của mình. Nhật Bản đã từng có chính sách bế quan tỏa cảng thời kì Edo, tuy nhiên nó chỉ chiếm một giai đoạn ngắn ngủi trong toàn bộ lịch sử lâu dài của Nhật Bản.
Nói một cách khái quát, thần thoại và ca dao trong thời kỳ cổ đại mang đậm nét bản địa là sản phẩm của Nhật Bản thì nền văn học Nhật Bản sau này lại phát triển dưới ảnh hưởng áp đảo của văn hóa Trung Quốc trong thời kỳ trung đại và của văn hóa châu Âu trong thời kỳ cận hiện đại (kể từ sau thời Minh Trị). Nếu mượn sơ đồ của Konishi Jinichi, ta có thể thể hiện điều này một cách đơn giản và sáng rõ như sau:
Thời kỳ
Cổ đại (Thế kỷ thứ 5 ~ 8)
Trung đại (Thế kỷ thứ 9 ~ giữa thế kỷ 19)
Cận hiện đại (Giữa thế kỷ 19 ~ nay)
Đặc trưng
Đặc trưng Nhật Bản (tính bản địa) .
Ảnh hưởng Trung Quốc
Ảnh hưởng phương Tây (châu Âu)
Trong quá trình lịch sử này, điều cần đặc biệt lưu ý là sự ảnh hưởng của Trung Quốc đã diễn ra một cách liên tục và mạnh mẽ suốt một thời gian dài. Vào thế kỷ thứ 6, Nho giáo và Phật giáo từ Trung Quốc du nhập vào Nhật Bản qua nước Bách Tế (thuộc bán đảo Triều Tiên), sự kiện này đã gây ra những ảnh hưởng to lớn lên toàn bộ lịch sử tinh thần của Nhật Bản mãi về sau (tuy nhiên, trong khi Phật giáo được tiếp nhận từ khá sớm và ảnh hưởng mạnh mẽ lên đời sống tinh thần của người Nhật Bản suốt thời kỳ trung đại thì chỉ đến thời kỳ Edo khi mà Chu Tử Học [hệ thống học vấn nho giáo được xây dựng lại bởi Chu Hi thời Nam Tổng] ảnh hưởng của Nho giáo mới trở nên mạnh mẽ. Tuy nhiên, ảnh hưởng ấy không chỉ dừng lại trên phương diện tư tưởng. Mà điều quan trọng nhất là Nhật Bản đã tiếp thu một khối lượng lớn các chữ Hán và khái niệm được thể hiện bằng chữ Hán từ Trung Quốc. Và vào thời kỳ này, do chưa có hệ thống chữ viết của riêng mình nên người Nhật đã vận dụng chữ Hán một cách khéo léo để ghi lại tiếng Nhật. Sau đó, sự ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, đặc biệt là thơ đã diễn ra trong suốt một thời gian dài, và truyền thống làm thơ chữ Hán bằng tiếng Trung Quốc nhưng đọc theo kiểu Nhật trong giới trí thức còn kéo dài đến tận thời Minh Trị (cuối thế kỷ 19). Với ý nghĩa đó, quả không ngoa nếu nói văn học Nhật Bản đã tồn tại qua một thời kỳ khá dài dưới dạng song ngữ tiếng Nhật-tiếng Trung Quốc (nói một cách chính xác hơn thì đây là một biến thể của tiếng Trung Quốc được Nhật Bản mà người ta thường gọi là Hán văn).
Bước sang nửa sau thế kỷ 19, cuộc cải cách Minh Trị đã đặt dấu chấm hết cho chính sách bế quan tỏa cảng kéo dài và Nhật Bản bắt đầu mở cửa ra bên ngoài, chính trong thời kỳ này, văn học cũng giống như các lĩnh vực khác như khoa học, tư tưởng đã hấp thu một cách tham lam mọi thứ của phương Tây. Khi nói đến quá trình hiện đại hóa các thể loại tiểu thuyết, thơ, kịch và sự xác lập của văn học cận hiện đại ở Nhật Bản, ta không thể bỏ qua ảnh hưởng của văn học cận hiện đại châu Âu từ Shakespear, Geothe đến Turgenev, Tolstoi, Dostoevski v.v... Sau đó, việc chuyển ngữ văn học Âu Mỹ trở nên xuyên suốt và phổ biến, và không hề quá lời khi nói rằng văn học dịch đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền văn học cận hiện đại Nhật Bản. Thái độ coi trọng văn học âu Mỹ của người Nhật kéo dài cho tới hiện đại. Giai đoạn đầu của niên hiệu Chiêu Hòa (1927~1930), nhà xuất bản Shinchosha xuất bản bộ sách dịch văn học thế giới với tựa đề "Văn học thế giới toàn tập", hầu như tất cả các tập đều trở thành bestseller với gần 400 nghìn bản được bán ra. Tuy nhiên, có một điều thú vị là các tác phẩm được tập hợp trong toàn bộ 57 tập của bộ này thảy đều là văn học Âu Mỹ, hoàn toàn không có sự góp mặt của văn học Á Phi. Tóm lại, đối với người Nhật Bản thời kỳ đó, văn học thế giới có nghĩa là văn học phương Tây.

3 . Tự nhiên và bốn mùa

Có thể nói các điều kiện địa lý của Nhật Bản cùng với tự nhiên đa dạng do các điều kiện đó mang lại cũng ảnh hưởng lớn tới văn học Nhật Bản. Trong số các nhà tư tưởng sáng tạo chủ trương cách nghĩ rằng khí hậu và môi trường tự nhiên ảnh hưởng tới con người và nền văn hóa có Watsuji Tetsuro, tác giả cuốn "Phong thổ" (1931). Nếu đẩy cách nghĩ này lên đến cực đoan sẽ rất nguy hiểm vì người ta dễ sa vào loại hình luận và quyết định luận đơn thuần, tuy nhiên có thể thấy rằng bản thân người Nhật cũng cảm thấy tầm quan trọng của phong thổ qua thực tế là các thuyết coi trọng sự ảnh hưởng của phong thổ chỉ xuất hiện ở Nhật Bản.
Nhật Bản là một đảo quốc với hơn 3700 hòn đảo, phần lớn trong số đó thuộc vùng ôn đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm tương đối dễ chịu, luôn ở vào khoảng 10-18oC, lượng mưa hàng năm từ 1000-2500mm, nguồn nước dồi dào, thảm thực vật phong phú, bốn mùa biến đổi sinh động. Vì là đảo quốc nên đương nhiên Nhật Bản được bao quanh bởi biển, địa hình bờ biển tạo ra những cảnh sắc thay đổi phong phú và tuyệt đẹp. Trong tiếng Nhật có thành ngữ "Tsutsuuraura" (tân tân phố phố), có nghĩa là "không xứ sở nào, không ngóc ngách nào là không đến được". Chữ "tân" vốn để chỉ bến cảng, chữ "phố" vốn để chỉ phần vịnh ăn sâu vào đất liền, từ đó có thể thấy biển đóng vai trò to lớn và thường nhật như thế nào với người Nhật Bản.
Mặt khác, địa hình của quần đảo Nhật Bản về cơ bản được hình thành từ núi, có đến sáu mươi phần trăm diện tích là vùng núi không thích hợp cho việc cư ngụ của con người. Có thể nói phần lớn diện tích nằm trong vùng ôn đới, song do địa hình trải dài từ bắc xuống nam nên khí hậu tương đối đa dạng từ Hokkaido ở phía bắc thuộc đới lạnh xuống đến Okinawa ở phía nam thuộc á nhiệt đới quanh năm là mùa hè. Văn học Nhật Bản đã phát triển cùng với thiên nhiên phong phú và đa dạng được tạo nên bởi sự đa dạng của khí hậu. Đặc biệt, yếu tố ảnh hưởng sâu sắc nhất tới văn học là "bốn mùa" xuân hạ thu đông. Ở Nhật Bản, ranh giới của bốn mùa rất rõ nét, người Nhật Bản từ xưa đến nay luôn biết cách thưởng thức vẻ đẹp độc đáo của mỗi mùa và thể hiện những vẻ đẹp ấy bằng văn học. Ta sẽ không thể hình dung được một nền văn học với các thể loại phát triển từ xa xưa như waka, tùy bút, haikai nếu không tính tới yếu tố mỹ học bốn mùa này.
Tôi xin đưa ra một thí dụ điển hình mà ở đó bốn mùa xuất hiện một cách hết sức sống động. "Chẩm thảo tử" (Makura no soushi) là tập tùy bút do một phụ nữ có tên Seisho Nagon viết vào cuối thế kỷ thứ 10. Những dòng đầu tiên rất nổi tiếng, viết về tuyệt thú của mỗi mùa. Theo Seisho Nagon, những tuyệt thú ấy là:
Xuân là rạng đông...
Hè là đêm tối...
Thu là chiều muộn...
Đông là tinh sương...
Ở đây tôi không trích dẫn nội dung các bài tùy bút, song Seisho Nagon viết về bốn mùa bằng sự đa cảm đầy tinh tế và đặt những tuyệt thú ấy trong mối liên hệ với tự nhiên và thời tiết. Con mắt quan sát tinh tế đối với tự nhiên và sự đa cảm tìm thấy niềm thích thú theo thời gian trong những biến chuyển của thời tiết chính là nét đặc sắc của mỹ học truyền thống Nhật Bản.

4. Tính trữ tình

Nếu chuyển cái nhìn từ các yếu tố bên ngoài vào bản thân nội dung tác phẩm để xem xét cách diễn đạt và nhịp điệu, có thể thấy rõ, trong phần lớn các tác phẩm văn học từ trước đến nay của Nhật Bản tính chất trữ tình và cảm tính rất mạnh mẽ. Trữ tình là một khái niệm đối lập với tự sự, ở Nhật Bản hầu như không xuất hiện các tác phẩm thuộc thể loại sử thi anh hùng, các tác phẩm tanka vốn là chủ lưu của văn nghệ từ thời kỳ trung đại thể hiện nỗi buồn đau cá nhân hay tình cảm luyến ái mang đậm nét trữ tình chiếm tỉ lệ áp đảo. Yếu tố văn học chủ đạo ở đó là nỗi buồn chứ không phải niềm vui, nước mắt chứ không phải nụ cười, bởi thế mà văn học Nhật Bản hướng tới những mưu cầu mang tính trữ tình của nội tâm cá nhân hơn là đối diện với các yếu tố mang tính xã hội, lịch sử. Tzvetana Kristeva, nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản xuất sắc người Bulgaria nghiên cứu waka trung đại Nhật Bản từ quan điểm "Thi học của nước mắt”.
Mặt khác, cảm tính là khái niệm đối lập với lý trí, trong văn học Nhật Bản từ trước đến nay, các biểu đạt mang đậm chất cảm tính chủ quan được đề cao hơn các cấu trúc mang tính lý trí, logic, khi đó, có thể nhận định rằng khuynh hướng coi trọng các giá trị mỹ học mạnh hơn tính luân lý. Trong văn học và văn hóa Nhật Bản, khi xem xét các từ ngữ thể hiện các đặc trưng quan trọng nhất trong mỗi thời kỳ, người ta sẽ nghĩ ngay đến các từ khóa mononoaware, u huyền, wabi/sabi, tuy nhiên có thể thấy đây đều là những khái niệm liên quan đến ý thức thẩm mỹ mà không mấy liên quan đến tính luân lý hay xã hội cũng như không cảm thấy một cách mạnh mẽ các yếu tố siêu việt (như cái nhìn về thần thánh trong tôn giáo).
Chúng ta thường nhiều lần nghe nhắc tới các từ khóa này, song ý nghĩa thực sự của chúng khá mơ hồ và cách dùng cũng muôn vẻ nên dễ gây ngộ nhận hay những cách hiểu phóng đại, vì vậy, ở đây tôi muốn giải thích một cách thật đơn giản các khái niệm cơ bản này.
Mononoaware, nói một cách khái quát, là thứ cảm xúc hay tâm trạng sâu lắng khi chạm tới sự cơ vi và mong manh của đời người. Một học giả thế kỷ 18 tên là Motoori Norinaga chủ trương rằng đây là tư tưởng trung tâm của mỹ học thời kỳ Heian, và sau khi ông chỉ ra tầm quan trọng của nó trong "Truyện Genji" (Genjimonogatari) - xuất hiện vào thế kỷ 11 và có thể được coi là cuốn trường thiên tiểu thuyết sớm nhất trên thế giới - thì quan điểm này bắt đầu được chấp nhận rộng rãi. Chữ mono trong tiếng Nhật là một khái niệm rộng và mơ hồ, tuy nhiên trong trường hợp này nó được dùng để chỉ thế giới của những đối tượng khách quan nằm ngoài thế giới cảm tính của cá nhân. Mặt khác, aware là thế giới cảm tính chủ quan, theo đó mononoaware là thứ cảm xúc hòa trộn được sinh ra từ sự thống nhất giữa thế giới của những đối tượng khách quan với thế giới của cảm tính chủ quan.
U huyền vốn là một từ Hán Nhật dùng để chỉ những cảnh giới sâu xa, vi diệu và thần bí mà con người không dễ dàng nắm bắt được, tuy nhiên trong waka thời kỳ tnmg đại, đây lại là từ để chỉ một trạng thái lý tưởng mà ở đó vẻ đẹp tao nhã đóng vai trò chủ đạo khiến nảy sinh những cảm xúc hay tâm trạng sâu xa nằm ngoài ngôn ngữ. Ngoài ra, trong nghệ thuật noraku, nó còn có nghĩa là những thứ đẹp một cách tao nhã và mềm mại.
Wabi/sabi là hai khái niệm khá giống nhau và thường được xếp cạnh nhau, tuy nhiên wabi vốn có nghĩa là nỗi buồn man mác, dịu nhẹ còn sabi là tâm trạng đối với những cái xưa cũ (đây vốn là một từ đồng nghĩa với sabi là gỉ sét). Đặc biệt trong trà đạo và haikai, tâm trạng chìm đắm trong trạng thái thưởng thức ctìng với nỗi buồn man mác, dịu nhẹ và niềm xao xuyến trước những điều xưa cũ, tức là cái tâm trạng được thể hiện bằng cặp từ wabi/sabi, rất được coi trọng.
Tôi xin đơn cử ra đây một ví dụ thực tế về mỹ học của Wabi/sabi. Đây là bài haiku mà bất cứ người Nhật nào cũng biết của Matsu Basho, một nhà thơ haiku thời Edo.
[Furuikeya kawazutobikomu mizunooto]
Ao cũ
Con ếch nhảy
Tiếng nước
(Sáng tác năm 1686)
Haiku là thể thơ theo luật nhỏ nhất thế giới gồm 3 câu với nhịp âm tiết là 5-7-5, tổng cộng chỉ vỏn vẹn có 17 âm tiết, song liệu rằng các bạn có thấy cả một vũ trụ kỳ lạ của thi ca đã hiện ra trong cái hình thức nhỏ bé ấy chăng? Bối cảnh của bài thơ là cái ao cũ thường thấy trong các ngôi vườn Nhật Bãn mà bình thường chắc chẳng ai buồn lưu tâm. Ta có thể tưởng tượng ra một cái ao nhỏ, giản dị và buồn bã, không được trang trí cầu kỳ, mà thậm chí còn có cả rêu phong và cỏ dại nữa. Thế rồi một con ếch 9vi2 tiếng Nhật không phân biệt số nhiều và số ít nên về mặt ngôn ngữ ta không thể xác định được là một hay nhiều con) nhảy xuống và tiếng nước kêu nên đánh tõm. Chỉ đơn giản là một quang cảnh như vậy nhưng có thể nói đây là điển hình về mỹ học của wabi/sabi kiểu Nhật Bản.
Tuy nhiên, ở Nhật Bản hiện đại, những tư tưởng của mononoaware hay wabi/sabi dường như không còn liên quan gì tới nhịp sống hiện đại và hầu như đã bị Au hóa nữa. Thịnh hành nhất hiện nay là ý thức thẩm mỹ được thể hiện bằng một từ tối tân và đầy chất hiện đại, đó là kawaii. Vậy đó là cái gì? Kawaii là một tính từ được dùng từ xa xưa để biểu đạt tình cảm quý mến dành cho trẻ nhỏ hoặc những gì xinh xắn, tuy nhiên ngày nay nó đã được dùng rộng rãi trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Đặc biệt, các cô gái tầm tuổi mười hay hai mươi sử dụng cách nói kawaii cho hầu hết các trường hợp mà theo đánh giá chủ quan của họ là hiện đại và đáng yêu. Nó đã trở thành một từ đại diện cho kiểu mỹ học Nhật Bản thường thấy trong manga (truyện tranh), anime (phim hoạt hình), mô hình các nhân vật v.v... vượt ra khỏi biên giới Nhật Bản và được biết tới ở nhiều nước trên thế giới. Nhà phê bình Yomota Inuhiko đã chỉ ra rằng đằng sau kawaii là truyền thống mỹ học coi trọng cảm xúc trước những cái nhỏ bé và mong manh của Nhật Bản nên bề ngoài trông có vẻ như là sản phẩm của văn hóa đại chúng đang thịnh hành, song về căn nguyên dễ nhận thấy rằng nó có mối liên hệ với mononoaware.
Nếu thử xếp các từ khóa của mỹ học Nhật Bản từ mononoaware đến kawaii, ta sẽ thấy có một điểm chung giữa chúng đó là không biểu đạt một cách rõ ràng mà thiên về tận hưởng những tâm trạng sâu xa nằm ngoài ngôn ngữ và gây ra cho người ta thứ cảm xúc không thể diễn tả; nhờ chúng người viết vừa tôn trọng cái tinh tế, bé nhỏ, cái khó nói vừa không ngừng hướng tới sự hài hòa với thế giới của vẻ đẹp.
Ở đây, tôi muốn nêu thêm một đặc trưng nữa của mỹ học Nhật Bản, đó là khía cạnh đối lập rất mờ nhạt và sự hài hòa được đề cao, giống như Konishi Jinichi đã chỉ ra. Sự đối lập có thể xuất hiện ở nhiều chiều kích như trong chính nguyên lí cấu trúc nội tại của tác phẩm, hay trong mối quan hệ giữa người viết và tác phẩm, hay trong con người và môi trường tự nhiên, xã hội bao quanh họ, tuy nhiên người viết trong văn học Nhật Bản luôn hướng tới xây dựng mối quan hệ hài hòa với mono trong thế giới của cái đẹp, như trường hợp của monoaware là một điển hình, chứ không đặt mục tiêu đấu tranh với thế giới hay cải tạo thế giới. Nếu nói về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, như tôi đã trình bày, Nhật Bản được trời phú cho một phong thổ ấm áp, hiền hòa và dễ chịu, thành thử người ta không cần phải chinh phục, cải tạo hay đấu tranh với tự nhiên, mà ngược lại, có thể vừa tận hưởng vẻ đẹp của tự nhiên như nó vốn có vừa duy trì sự hài hòa đẹp đẽ ấy.
Mỹ học Nhật Bản với chất trữ tình và cảm tính đậm nét như vậy có lẽ thích hợp với nữ giới hơn nam giới. Trên thực tế, ở Nhật Bản thời kỳ trung đại, vị thế xã hội nói chung của phụ nữ thấp hơn đàn ông, mặc dầu vậy, vai trò của phụ nữ trong các biểu hiện văn học lại nổi bật hơn. Phần lớn các thi nhân xuất sắc là phụ nữ là chuyện không cần bàn đến, hơn thế nữa tác giả tập tùy bút "Makura no soushi" là Seisho Nagon mà tôi vừa trích dẫn ở trên và tác giả "Truyện Genji" (xuất hiện đầu thế kỷ 11) - cuốn trường thiên tiểu thuyết được coi là một tượng đài của văn học thế giới - là Murasaki Shikibu cũng đều là nữ. Bên cạnh đó, kể từ sau thời kỳ trung đại, còn có một thể loại quan trọng nữa của văn học Nhật Bản là nhật ký, và phần lớn các tác giả này cũng đều là nữ. Các tác phẩm kinh điển thuộc thể loại văn học nhật ký thường được biết đến gồm có "Nhật ký phù du” (Kagerou nikki) (cuối thế kỷ thứ 10), hay "Nhật ký Sarashina” (giữa thế kỷ 11) v.v. Tác giả của các tác phẩm này là hai người phụ nữ thuộc dòng dõi quý tộc. Trong văn học Nhật Bản hiện đại, không thể phủ nhận vai trò của các tác giả nữ xuất sắc trên mọi lĩnh vực như tiểu thuyết, thơ, tùy bút (các tác giả nữ Nhật Bản được dịch và giới thiệu ở Việt Nam như các bạn đã biết gồm có Yoshimoto Banana, Yamada Amy, Ogawa Yoko, Kanehara Hitomi v.v.), song có thể nói rằng ngay từ thời kỳ cổ đại, việc nữ giới phát huy vai trò không kém, thậm chí có phần nhỉnh hơn nam giới là một đặc trưng của văn học Nhật Bản.
MITSUYOSHI NUMANO

Liên kết web du hoc nhat ban

Liên hệ tư vấn du học Nhật Bản miễn phí:       Hotline: 0905234977

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét